Đánh giá hiệu quả điều trị phản vệ theo phác đồ BV Bạch Mai

Tỷ lệ phản vệ khác nhau giữa các nhóm nguyên nhân, từng lứa tuổi, từng vùng. Thức ăn thường là nguyên nhân hay gặp ở trẻ em, thanh thiếu niên. Thuốc và nọc côn trùng thường gặp ở lứa tuổi trung niên. Tại bệnh viện Bạch Mai xu hướng tỷ lệ phản vệ nhập viện ngày càng gia tăng, trong 5 năm từ năm 2009 (0.056%) đến năm 2013 là 0,07 % [4]. 
Đề tài: “Đánh giá hiệu quả điều trị phản vệ theo phác đồ của khoa Hồi sức tích cực, bệnh viện Bạch Mai” nhằm mục tiêu:
1. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng của phản vệ.
2. Nhận xét hiệu quả điều trị phản vệ theo phác đồ trên.
Luận văn chuyên khoa cấp II: Bác sĩ Nguyễn Anh Tuấn 
Hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Gia Bình

  • Nguyên nhân gây phản vệ hay gặp nhất là thuốc (50%), trong đó do thuốc kháng sinh là 30,4%. Phản vệ do các chế phẩm máu chiếm 33,3%, do thức ăn chiếm 9,3%, do nọc côn trùng 4,4%, còn lại là các nguyên nhân khác.
  • Dị nguyên gây phản vệ qua đường tĩnh mạch chiếm 61,3%, qua đường ăn (tiêu hóa) là 20,6%, đường tiêm bắp là 8,3%, côn trùng đốt là 3,4%.
  • Thời gian xuất hiện triệu chứng phản vệ sau khi tiếp xúc với dị nguyên trung bình  46.5 ± 51.5 phút, nhanh nhất là 1 phút và muộn nhất là 5h.

– Triệu chứng ở da và niêm mạc là 82,3%, ở cơ quan hô hấp là 62,7 %, biểu hiện ở tuần hoàn là 48,3%, ở tiêu hóa là 38,2%, thần kinh 31,8%.
– Phản vệ mức độ nặng (43,1%), mức độ nhẹ là 36.8%, mức độ nguy kịch là 20,1%.

Có 71,1% bệnh nhân được sử dụng adrenalin trong điều trị phản vệ.

– 100% bệnh nhân ở mức độ nặng và mức độ nguy kịch và  21,3% số bệnh nhân ở mức độ nhẹ được dùng Adrenalin.
– Tỷ lệ bệnh nhân được dùng adrenalin tiêm bắp là 98,6%.
–  Bệnh nhân dùng adrenalin đường tĩnh mạch chiếm tỷ lệ 1,4%.
– Không có bệnh nhân dùng adrenalin đường tiêm dưới da

Liều dùng khởi đầu Adrenalin trung bình là  0.58 ± 0.20; nhỏ nhất là 0,2 mg, lớn nhất là 1mg. Có 51,1% số bệnh nhân phải tiêm nhắc lại, Liều lặp lại trung bình là 0.56 ± 0.18; Liều duy trì trung bình là 0.18 ± 0.15, tổng liều lớn nhất là 23 mg

– Không có biểu hiện rối loạn nhịp tim hoặc dấu hiệu suy vành trên điện tâm đồ ở liều điều trị.

– Dimedrol là thuốc được sử dụng nhiều nhất (91,2%), Solu-Medrol là 80,9%, hỗ trợ hô hấp là 73,5%, truyền dịch 51,5%.

– Các triệu chứng ở cơ quan hô hấp, tuần hoàn, thần kinh, tiêu hóa và ở da, niêm mạc giảm nhanh sau điều trị 30 phút  có ý nghĩa thống kê.

Tất cả  bệnh nhân đều hết triệu chứng phản vệ, không có tử vong hoặc diễn biến nặng xin về.
Phản vệ là một biến chứng nặng nề trong thực hành lâm sàng, xuất hiện khi bệnh nhân được tiếp xúc với một dị nguyên. Hậu quả để lại có thể đe doạ tính mạng bệnh nhân. Phát hiện sớm phản vệ với các dấu hiệu ngoài da, thay đổi hô hấp và thay đổi về huyết động (huyết áp và tưới máu tổ chức) là cần thiết và có tính chất quyết định trước khi tiến hành cấp cứu phản vệ. Adrenalin là thuốc đầu tay và là thuốc quan trọng có tác dụng tuyệt đối trong cấp cứu phản vệ, thuốc không có chống chỉ định tuyệt đối trong hoàn cảnh phản vệ, chỉ định dùng sớm giúp bệnh nhân phản vệ tránh chuyển sang giai đoạn sốc rối loạn chuyển hoá, khó hồi phục.

– Phản vệ là tình trạng phản ứng dị ứng cấp tính có thể đe dọa tính mạng nếu không được điều trị kịp thời. Do vậy, cần nâng cao trình độ của nhân viên y tế để phát hiện sớm và điềù trị phản vệ kịp thời. Cung cấp hướng dẫn đầy đủ về chẩn đoán và điều trị sốc phản vệ cho các tuyến y tế. Cung cấp thêm một chế phẩm adrenalin (adrenalin tự tiêm (epipen), adrenalin đường khí dung).
– Quản lý chặt chẽ việc sử dụng thuốc, kê đơn thuốc. Cần phải phổ biến kiến thức cho toàn dân hiểu biết về phản ứng phản vệ, cách nhận biết những dấu hiệu sớm và và xử trí phản vệ  khi sử dụng thuốc. Cấp thẻ dị ứng và tư vấn cho bệnh nhân cách phòng tránh.
– Phát hiện sớm và điều trị sớm phản vệ là yếu tố quyết định tiên lượng bệnh. Điều trị chính là tiêm adrenalin càng sớm càng tốt và dự phòng tái tiếp xúc với dị nguyên.
– Tất cả các cơ sở y tế, các nhân viên y tế phải hết sức thành thạo sử dụng phác đồ cấp cứu phản vệ và luôn sẵn sàng đối phó với tai biến dị ứng thuốc, đặc biệt là tai biến phản vệ bởi nó xảy ra bất ngờ và khó lường trước.
– Người dân cần được giáo dục kiến thức hiểu biết về phản ứng phản vệ, cách nhận biết những dấu hiệu sớm và những nguy cơ có thể dẫn đến phản vệ khi sử dụng thuốc.
– Người bệnh cần được cấp thẻ xác nhận dị ứng với dị nguyên nào đó khi  khám chữa bệnh.