Nghiên cứu ứng dụng một số kỹ thuật lọc máu hiện đại

GS.TS. Nguyễn Gia Bình

Trưởng khoa

Các nghiên cứu ứng dụng về các biện pháp lọc máu hiện đại ở Việt Nam còn nhỏ lẻ, chưa công trình nào đưa ra được kết luận thích đáng về hiệu quả và các biến chứng hay gặp của các biện pháp lọc máu đó trong lâm sàng. Đặc biệt chưa xây dựng được các quy trình kỹ thuật hoàn chỉnh để có thể áp dụng rộng rãi trên lâm sàng. Xuất phát từ tình hình bệnh tật và các kết quả nghiên cứu đó đề tài cấp Nhà nước “Nghiên cứu ứng dụng một số kỹ thuật lọc máu hiện đại trong cấp cứu điều trị một số bệnh” có mã số ĐTĐL 2008.G/29 nhằm mục tiêu:

  1. Nghiên cứu hiệu quả và các biến chứng thường gặp của một số biện pháp lọc máu hiện đại (lọc máu liên tục, thay huyết tương, gan nhân tạo và lọc máu hấp phụ) trong cấp cứu điều trị một số bệnh. 
  2. Xây dựng các chỉ định, quy trình kỹ thuật lọc máu hiện đại hoàn chỉnh để ứng dụng trên lâm sàng trong điều kiện ở Việt Nam.

KẾT LUẬN

I. Lọc máu liên tục trong điều trị suy đa tạng:
  • Kỹ thuật LMLT với thể tích dịch thay thế 45ml/kg/giờ trong quy trình ứng dụng điều trị bệnh nhân suy đa tạng có kết quả tốt:
  • Điểm SOFA giảm một cách có ý nghĩa sau từng thời điểm được lọc máu liên tục trong nhóm BN sống.
    Tử lệ tử vong giảm ở nhóm suy 3-4 tạng khi vào viện, nhóm BN suy 5 tạng khi vào viện tỷ lệ tử vong không giảm. Suy trên 3 tạng khi vào viện có nguy cơ tử vong cao gấp 2,67 lần.
    Chỉ định LMLT sớm (với thời gian từ lúc BN được chẩn đoán SĐT trong vòng 24 giờ đầu) giúp cải thiện tỷ lệ tử vong cao, với nguy cơ  giảm được 5,6 lần so với chỉ định LMLT muộn sau 24 giờ.
  • Tính an toàn của kỹ thuật LMLT trong nghiên cứu:
  • Biến chứng tắc màng sớm gặp với tỷ lệ thấp 4,5% (7/156 màng lọc) khi áp dụng quy trình chống đông trong nghiên cứu.
    Không có biến chứng vỡ màng lọc.
    6,1% rỉ máu ở chân catheter có liên quan với aPTT kéo dài sau 24 giờ LMLT, biến chứng này hết sau khi liều thuốc chống đông heparin được điều chỉnh theo quy trình nghiên cứu.
II. Lọc máu liên tục trong điều trị sốc nhiễm khuẩn:
  • Lọc máu liên tục tĩnh mạch tĩnh mạch cho bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn là phương pháp điều trị hỗ trợ có hiệu quả:
  • Giảm được liều thuốc vận mạch trong quá trình lọc máu trong khi đó các thông số huyết động được cải thiện: nhịp tim giảm có ý nghĩa (p< 0,001), cải thiện huyết áp trung bình từ giờ thứ 6 trở đi (p < 0,001), tăng có ý nghĩa (p < 0,001) sức cản mạch hệ thống từ giờ thứ 6 lọc máu trở đi ở cả 2 nhóm sống và tử vong.
    Điểm SOFA giảm có ý nghĩa từ giờ thứ 48 (p < 0,001), cải thiện điểm SOFA ở nhóm sống có ý nghĩa sớm hơn từ giờ thứ 24 (p < 0,01).
    Cải thiện pH máu có ý nghĩa thống kê từ giờ thứ 48 (nhóm sống) (p<0,05) và cải thiện lactat máu từ giờ thứ 6 (p < 0,05) (nhóm sống).
    Tỉ lệ thoát sốc 54,79 % và tỉ lệ tử vong 49,3 %.
    Lọc máu liên tục trong vòng 12 giờ đầu từ khi khởi phát sốc nhiễm khuẩn cho kết quả tốt hơn lọc máu muộn sau 12 giờ (tỉ lệ tử vong 11,8% so với 72,4% với p < 0,05).
  • Mức độ an toàn và khả năng áp dụng của quy trình lọc máu liên tục tĩnh mạch tĩnh mạch cho BN SNK:
  • Quy trình LMLT áp dụng trong nghiên cứu đảm bảo an toàn, dễ thực hiện, chỉ gặp các biến chứng nhẹ và thoáng qua và không gặp các biến chứng nguy hiểm.
  • Chảy máu: gặp 4,1% xuất huyết dưới da, không gặp xuất huyết tạng mức độ nặng.
  • Sự cố về kỹ thuật: đông màng 25,9%.
III. Lọc máu liên tục trong điều trị viêm tụy cấp:
  1. Hiệu quả của LMLT kết hợp trong điều trị VTC nặng:
  • Các chỉ số lâm sàng: nhiệt độ, tần số tim, tần số thở, huyết áp trung bình, điểm APACHE II, áp lực ổ bụng cải thiện rõ rệt so với trước khi LMLT ở các thời điểm 24 giờ, 48 giờ, 72 giờ.
  • CRP giảm có ý nghĩa sau 24 giờ lọc máu
  • Tỷ lệ tử vong của viêm tụy cấp nặng được lọc máu liên tục trong nghiên cứu này là 16,6%
  • Lọc máu sớm có hiệu quả tốt hơn: thời gian từ khi xuất hiện viêm tụy cấp đến khi được lọc máu liên tục là 35,4±17,82 giờ ở nhóm sống và 61,5±26,8 giờ ở nhóm tử vong (p < 0,01).
  • Biến chứng của LMLT
  1. Lỗi kỹ thuật: đông màng gặp 22,11%
  • Biến chứng khác:
  • Chảy máu tiêu hóa gặp 2 trường hợp mức độ nhẹ chiếm 2,11%;
  • Hạ kali máu gặp 6 trường hợp mức độ nhẹ đến vừa chiếm 10,53%;
  • Biến chứng nhiễm trùng đầu catheter LMLT gặp 2 trường hợp.
  • Không có biến chứng nặng.

KẾT LUẬN CHUNG

  1. Nghiên cứu đã nhận thấy được kỹ thuật lọc máu liên tục tĩnh mạch tĩnh mạch với thể tích dịch thay thế cao tỏ ra có hiệu quả tốt trong điều trị suy đa tạng, sốc nhiễm khuẩn và viêm tụy cấp: các chỉ số về lâm sàng và cận lâm sàng được cải thiện trong quá trình lọc máu, giảm được tỷ lệ tử vong, nhất là ở nhóm bệnh nhân được lọc máu sớm.
  2. Quy trình kỹ thuật lọc máu liên tục tĩnh mạch tĩnh mạch với thể tích dịch thay thế cao do chúng tôi xây dựng an toàn khi ứng dụng điều trị suy đa tạng sốc nhiễm khuẩn và viêm tụy cấp. Quy trình kỹ thuật này có thể áp dụng rộng rãi ở các cơ sở hồi sức – cấp cứu có khả năng thực hiện lọc máu liên tục sau khi bổ sung một số phần đúc rút từ kết quả nghiên cứu.

Tin tức khác